Kinh nghiệm Những điều nên biết trước khi mua DSLR [Kì 2]

Thảo luận trong 'Tư vấn thiết bị KTS' bắt đầu bởi CN5S_HHH, 9 Tháng chín 2013.

  1. CN5S_HHH Thành Viên Mới

    Ở bài viết này, chúng ta sẽ cùng điểm qua những tiêu chí cơ bản cần lưu ý để mua một chiếc máy ảnh DSLR.

    Cảm biến ảnh
    Kích cỡ của cảm biến quyết định rất nhiều tới chất lượng hình ảnh và tiêu cự của ống kính. Các máy DSLR sử dụng cảm biến thuộc 1 trong 3 kích cỡ sau: Full Frame, APS-C và Four-Thirds. Như đã nói kích thước cảm biến ảnh hưởng đến tiêu cự. Để hiểu rõ hơn bạn có thể xem hình phía dưới, cảm biến nhỏ hơn thì phạm vi chụp của ảnh cũng hẹp hơn với cùng 1 ống kính.

    Những điều nên biết trước khi mua DSLR [Kì 2] - 657

    Cảm biến càng nhỏ hệ số crop (crop factor) càng lớn. Hệ số crop của APS-C là 1,5 hoặc 1,6 trong khi Four-Thirds là 2x. Tức là khi chụp cùng 1 ống kính thì tiêu cự của máy Full Frame bằng chính tiêu cự của ống kính trong khi APS-C thì nhân 1,5 lần và Four-Thirds là nhân 2 lần. Ví dụ ảnh từ máy Four Thirds chụp thông qua ống kính 24mm tương đương với máy Full Frame dùng ống kính 48mm, máy APS-C qua ống kính 24mm tương đương Full Frame dùng ống 36mm. Hệ số crop có thể không ảnh hưởng đến hầu hết người dùng nhưng nếu bạn chuyển thì máy film vốn có kích cỡ tương đương với cảm biến Full Frame thì chắc chắn nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến dải ống kính cũ của bạn lắm đấy.

    Những ai hay chụp ảnh xa thì tỷ lệ crop có thể là một lợi thế bởi vì góc nhìn của máy ảnh sẽ hẹp hơn khi so với máy full frame. Tất nhiên, với những ai hay chụp cảnh thì máy crop sẽ bất lợi vì ống kính góc rộng sẽ chẳng còn rộng như nó vốn có nữa. Thật may mắn khi các nhà sản xuất đã ra mắt những ống kính riêng cho hệ máy số, tối ưu hơn cho các cảm biến nhỏ.

    Vậy bạn nên chọn máy có cảm biến Full Frame hay crop, mỗi hệ thống cảm biến này đều có ưu và nhược điểm riêng của nó.

    Những điều nên biết trước khi mua DSLR [Kì 2] - 658
    Cảm biến Fullframe cho ảnh có DOF mỏng hơn

    Loại cảm biến Full Frame lớn (gọi Full Frame là vì kích cỡ của nó bằng với film 35mm ngày xưa) thường có viewfinder lớn hơn, sáng hơn và rất thích hợp cho những ai nâng cấp lên từ hệ máy film vì tiêu cự của dải ống kính cũ không bị thay đổi. Ngoài ra, máy ảnh Full Frame thường cho ảnh đẹp hơn khi chụp trong điều kiện ánh sáng kém vì nó nhạy hơn và cho DOF mỏng hơn (chủ thể rõ nét hơn và hậu cảnh mờ hơn) nếu bạn biết kiểm soát. Tất nhiên, Full Frame cũng có nhược điểm khi mà nó khá to và mắc tiền, có ít mẫu để chọn hơn, đồng thời khó kiểm soát nét hơn với những ai thiếu kinh nghiệm. Như đã nói ở trên, nếu muốn chụp xa thì có thể Full Frame sẽ gặp bất lợi hơn crop.

    Cảm biến APS-C là loại phổ biến nhất hiện nay và được sử dụng bởi hầu hết các nhà sản xuất khác nhau. Với tỷ lệ crop 1,5 hoặc 1,6, bạn sẽ cần phải sử dụng những ống kinh riêng cho máy số để có được góc rộng mong muốn. Dù vậy, những ống kính loại này thường rẻ tiền hơn những ống kính tương đương bên dòng máy full frame. Các ống “kit” đi kèm máy APS-C thường là những điểm khởi đầu tốt vì nó cho dải zoom đủ làm hài lòng hầu hết người dùng, từ cảnh góc rộng cho đến cận cảnh.

    Four-Thirds là định dạng cảm biến mới nhất và nó chỉ xuất hiện trên các máy kỹ thuật số, được tạo ra bởi Olympus. Four-Thirds (2/3) đồng thời được sử dụng bởi Panasonic và cũng đòi hỏi hệ thống ống kính mới hoàn toàn. Cảm biến 2/3 nhỏ hơn cũng đồng thời cho phép chế tạo những chiếc máy nhỏ gọn hơn là APS-C. Tuy đây là một hạn chế khi chụp thiếu sáng nhưng hầu hết người dùng căn bản đều không thấy sự khác biệt rõ rệt.

    Hệ thống chống rung

    Những điều nên biết trước khi mua DSLR [Kì 2] - 659
    Hình ảnh bị rung khi không có IS

    Hình ảnh chụp trong điều kiện ánh sáng yếu với những ống kính tele có thể sẽ hoàn toàn không thể sử dụng được nếu máy ảnh/ống kính của bạn không sở hữu một hệ thống chống rung tốt. Trong những điều kiện khắc nghiệt như vậy, chỉ hệ thống chống rung mới giúp ảnh ảnh không bị mờ (blur) mà thôi. Các nhà sản xuất khác nhau sử dụng những thuật ngữ khác nhau khi nói về blur như Super SteadyShot, Anti Share, Vibration redution, Mega OIS... Nhìn chung, chỉ có 2 loại chống rung chính là chống rung sử dụng ống kính, di chuyển những thành phẩn nhỏ bên trong ống kính và loại thứ 2 là chống rung bên trong thân máy bằng cách di chuyển cảm biến. Hãy lưu ý là 2 thuật ngữ chống rung quang học (optical) và chống rung cơ khí (mechanical) thường xuyên được sử dụng để thay thế cho nhau.

    Có nhiều kết luận khác nhau về hiểu quả của chống rung ống kính và sử dụng cảm biến nhưng kết quả của chúng thường không khác biệt nhiều. Các máy dùng chống rung cảm biến có tác dụng với bất cứ ống kính nào gắn vào trong khi chống rung ống kính đòi hỏi mỗi ống phải tích hợp hệ thống này. Các hệ thống chống rung ống kính làm cho ống mắc tiền hơn kha khá nên nhiều người ưa chuộng loại chống rung cảm biến hơn. Dù vậy, chống rung ống kính có 1 lợi thế rất lớn là nó cho phép người dùng nhìn thấy việc chống rung qua viewfinder ngay lập tức. Hiện tại thì Sony, Pentex và Olympus đi theo con đường cảm biến còn Canon, Nikon và Panasonic đi theo ống kính.

    Tốc độ
    Nếu bạn đang sử dụng máy ngắm và chụp thì chắc chắn sẽ nhận thấy sự khác biệt rất lớn về tốc độ khi chuyển qua máy SLR kỹ thuật số. Ngay cảm những mẫu DSLR cơ bãn nhấn cũng cho tốc độ lấy nét và chụp tốt hơn máy compact. Các body càng cao cấp thì tốc độ lấy nét càng được tăng cao và số tấm hình liên tiếp trong một giây sẽ càng cao hơn. Các thông số này là tối quan trọng cho những ai hay chụp thể thao và thú vật.

    Hầu hết các máy DSLR cơ bản cho phép người dùng chụp từ 2,5-3 hình/giây (fps), đủ để chụp trẻ em và thú cưng trong vườn. Nhiều nhà sản xuất còn giới hạn này trong một thời gian nhấn định (1 brust), tức là chỉ chụp được khoảng vài tấm thì phải tạm ngưng để máy lưu lại rồi mới chụp tiếp, đặc biệt là khi chụp ảnh RAW.

    Khi mà 3 fps không còn đáp ứng nổi thì bạn nên chuyển sang những dòng máy trung cấp với tốc độ khoảng 5 fps, những máy chuyên nghiệp thậm chí còn có thể đạt tới 12 khung hình 1 giây hay cao hơn nữa. Để đạt được điều này, các nhà sản xuất đã trang bị cho những máy trên bộ nhớ đệm lớn hơn và có thể lưu trữ hàng chục ảnh RAW chỉ bằng 1 lần bấm máy duy nhất.

    Kích cỡ, trọng lượng và độ bền máy ảnh

    Những điều nên biết trước khi mua DSLR [Kì 2] - 660
    Nikon D3 bị nhúng bùn nhưng vẫn không sao

    Như đã nói ở trên, các máy DSLR có thể có rất nhiều kích thước khác nhau, từ loại nhỏ gọn như compact cho đến những máy siêu bự kiểu D3s. Nếu bạn hay chụp trong những điều kiện có nhiều bụi, ẩm ướt thì nên chọn những máy hoạt động trong nhiều thời tiết khác nhau, có thân làm từ hợp kinh ma-giê và có hệ thống rũ bụi khỏi cảm biến (dust removal). Thông thường, máy càng nặng thì càng càng bền, nếu bạn hay di chuyển thì có thể mua những máy nặng khoảng nửa ký chưa kèm ống kính. Ngày càng có nhiều máy ảnh tầm trung có khả năng hoạt động bền hơn ngày xưa, D7000 mới đây là một ví dụ điển hình. Có một lưu ý là tuy nhà sản xuất không công bố rõ nhưng nhiều máy vẫn hoạt động tốt với điều kiện trời mưa nhẹ. Những máy nào mà công ty sản xuất tuyên bố là chống nước thì bạn hãy cứ an tâm về điều đó. Cá nhân người dịch bài này đã từng chứng kiến 1 “em” D3 lội sông trong khoảng 2 tiếng mà không xi nhê gì.

    Màn hình và live view
    Một trong những ưu điểm rất lớn của DSLR là bạn có thể nhìn hình trực tiếp ảnh cần chụp qua viewfinder mà không phải nhìn vào màn hình LCD như máy compact. Tuy nhiên, rất nhiều người chuyển từ máy ngắm chụp lên cảm thấy bỡ ngỡ với cách nhìn này, họ mong muốn một cái gì quen thuộc hơn nên các nhà sản xuất cũng dần trang bị live view (ngắm qua màn hình LCD) ở những mẫu máy gần đây.

    Những điều nên biết trước khi mua DSLR [Kì 2] - 661

    Live view không phải là không có điểm yếu, trong hầu hết các trường hợp thì nó làm chậm thời gian chụp hình. Hãy nhớ lại cơ chế chụp ảnh của DSLR một chút, thông thường gương nằm che cảm biến để lấy nét và cho người dùng ngắm, khi chụp thì gương sẽ lật lên để ánh sáng đi vào cảm biến và khi xong thì nó lật nằm che cảm biến. Nếu bạn dùng live view, gương luôn mở, khi nào lấy nét thì nó phải che cảm biến lại và nó tốn thêm 1 bước che cảm biến lại so với việc dùng ống ngắm quang. Đây chính là lý do mà 1 số thế hệ live view đầu tiên đòi hỏi người dùng phải lấy nét tay khi dùng live view. Một số máy sau này cho phép lấy nét tự động nhưng nó cũng khá chậm so với viewfinder truyền thống. Công ty duy nhất thực hiện live view tốt là Sony vì sử dụng 2 bộ cảm biến riêng (cảm biến nhỏ cho live view) cho phép lấy nét tự động nhanh nhưng giải pháp này có thể làm viewfinder tối đi và cũng không cho hình ảnh độ phân giải cao khi hiển thị trên màn hình live view.

    Tất nhiên là live view có rất nhiều ứng dụng thực tế. Những ai hay chụp studio hẳn sẽ thích tính năng này vì họ có thể kiểm soát nét tốt hơn. Ngoài ra, trong những trường hợp chụp ở vị trí khó như chủ thể sát mặt đất hay cao quá đầu người dụng thì live view cũng cực kỳ hữu ích. Những khi này bạn khó lòng đưa mắt vào viewfinder được. Khi kết hợp với màn hình lật xoay ở một vài mẫu DSLR thì live view càng trở nên hữu ích hơn.

    Tính dễ dùng
    Các nhà sản xuất máy ảnh đang cố gắng tạo ra những chiếc máy DSLR dễ dùng nhất có thể bởi vì người dùng ngày càng chọn dòng sản phẩm này nhiều hơn. Do vậy, tính dễ dùng ngày càng được nâng cao hơn thông qua các hướng dẫn trên màn hình, hệ thống chụp ảnh tự động, nhận diện khuôn mặt, nhận diện nụ cười... Hầu hết các máy DSLR đều chụp tích hợp các chế độ chụp như compact nhưng ở các cấp độ khác nhau, với những máy chuyên nghiệp như D3s thì bạn không tìm được chế độ auto mà chỉ dừng lại ở P mà thôi.
    Chủ đề tương tự

Chia sẻ trang này