Đời sống Đờn Ca Tài Tử Nam Bộ

Thảo luận trong 'Khám phá - Trải nghiệm' bắt đầu bởi thichladi, 9 Tháng một 2015.

  1. thichladi thichladi.com

    Đã là một người con của miền Nam nói chung, của vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long nói riêng thì chắc hẳn không ai không biết đến một loại hình nghệ thuật dân dã độc đáo – Đờn Ca Tài Tử.

    Theo nhiều tài liệu để lại, thì đờn ca tài tử được du nhập vào miền Nam từ cuối thể kỷ 19 do ba nhạc sư người gốc Trung Bộ là: Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi – Nhạc quan triều đình nhà Nguyễn), Trần Quang Quờn (thầy ký Quờn) và Lê Tài Khị (biệt danh Nhạc Khị) sáng tạo nên với mục đích chỉ để phục vụ nghe chơi với nhau. Dần dà lan rộng ra đến những người bình dân, nam thanh nữ tú của các vùng nông thôn Nam Bộ ca hát sau những giờ mệt nhọc bên cánh đồng.

    Đờn Ca Tài Tử Nam Bộ - 59859
    Cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu

    Chữ “tài tử” ở đây có nghĩa là người chơi nhạc có biệt tài, giỏi về cổ nhạc, chứ không có nghĩa là nghiệp dư.

    Trình Diễn
    Nếu bạn đã từng về thăm miệt vườn Bến Tre, Tiền Giang thì chắc cũng đã có cơ hội được thưởng thức những giọng ca ngân nga, mùi mẫn từ những người con của vùng đất Miền Tây sông nước trong những bộ đồ bà ba đặc trưng.

    Đờn Ca Tài Tử Nam Bộ - 59860
    Chúng ta cũng dễ dàng nhận ra được ban nhạc không quá cầu kỳ, không quá câu nệ về hình thức. Ban nhạc thường dùng 5 nhạc cụ, gọi là “Ban Ngũ Nguyệt” gồm đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn kìm, đàn cò, và đàn tam. Vào khoảng năm 1930 có thêm đàn guitare phím lõm, violon, guitare hawaii được cải biên đưa vào trong nhạc tài tử.


    Theo truyền thống, ít khi nhạc công độc tấu, mà thường song tấu, tam tấu, hòa tấu. Đôi khi có ống sáo ngang hay ống tiêu thổi dọc kèm song lang.
    Dàn nhạc thường cùng ngồi trên một bộ ván hoặc chiếu để biểu diễn với phong cách đờn ca thảnh thơi, lãng đãng, dựa trên cái khung bài bản cố định gọi là “lòng bản”. Với cách chơi đó họ đích thực là những “tài tử” – những người có tài năng và phong cách điệu nghệ.

    Sang đầu thế kỷ 20, đờn ca tài tử rẽ nhánh thành một dòng nhạc mới với dấu mốc ban đầu là hình thức ca ra bộ và sau đó là cải lương. Đến nay, Nghệ thuật Đờn ca tài tử đã lan tỏa ra nhiều tỉnh, thành trong cả nước.

    Cải Lương
    Hai tiếng “Cải lương” có nghĩa là “Sửa đổi cho tốt hơn”. Từ xưa ở Việt Nam không có lối diễn tuồng nào khác hơn là hát Chèo hay hát Tuồng (ở Bắc Phần) và hát bội (ở Trung và Nam Phần). Ðến 1917, khi cải lương ra đời, người mình nhận thấy điệu hát này có thể tân tiến hơn điệu hát bội, nên cho đó là một việc cải thiện điệu hát xưa cho tốt hơn. Vì lẽ ấy người mình dùng hai tiếng “Cải lương” để đặt tên cho điệu hát mới mẻ này.

    Trước kia ở rải rác trong các tỉnh Nam Phần (Miền Nam) có những ban tài tử đờn ca trong các cuộc lễ tư gia, tân hôn, thăng quan, giỗ… Nhưng không bao giờ có đờn ca trên sân khấu hay trước công chúng. Qua năm 1910, ở Mỹ Tho, tại rạp hát ciné có ban tài tử của Nguyễn Tống Triều, tục gọi Tư Triều gồm bản thân Tư Triều (chơi đờn kìm), Chín Quán (đờn độc huyền), Mười Lý (thổi tiêu), Bảy Vô (đờn cò), Cô Hai Nhiễu (đờn tranh) và Cô Ba Ðắc (ca). Ban tài tử này đờn ca rất hay vì phần đông đã được chọn đi trình bày cổ nhạc Việt Nam tại cuộc triển lãm ở Pháp mới về.

    Năm 1911, Nguyễn Tống Triều muốn đưa ca nhạc ra trước công chúng, nên thương lượng với chủ nhà hàng “Minh Tân khách sạn” ở ngang ga xe lửa Mỹ Tho – Sài Gòn để ban tài tử đờn ca giúp vui cho thực khách. Người đến nghe ngày càng đông. Nhận thấy sáng kiến này có kết quả khả quan, Thầy Hộ, chủ rạp hát bóng Casino, phía sau chợ Mỹ Tho, muốn cho rạp hát mình đông khán giả bèn mời ban tài tử đến trình diễn mỗi tối thứ bảy và thứ tư trên sân khấu và đã được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt.

    Sân khấu thời bấy giờ cũng được dàn dựng rất đơn giản. Cái màn bạc dùng làm bối cảnh (fond), kế đó có lót một bộ ván, trước bộ ván có để một cái bàn chưn cheo. Hai bên sân khấu có để cây kiểng. Các tài tử đều ngồi trên bộ ván và mặc quốc phục xem thật nghiêm trang.

    Sáng kiến đưa đờn ca tài tử lên sân khấu của Tư Triều từ năm 1912 tại Mỹ Tho đã lan tràn đến Sài Gòn và nhiều tỉnh ở Nam Phần. Năm 1913 – 1914, chủ nhà hàng ở sau chợ Mới, Sài Gòn, là “Cửu long Giang” nghe danh tiếng ban tài tử nên đã xuống tận nơi để mời về. Ông Năm Tú là người có công nhất trong việc gây dựng lối hát Cải lương buổi ban đầu. Ông mướn thợ vẽ tranh cảnh phỏng theo lối trang trí rạp hát Tây Sài Gòn. Ông mua sắm y phục cho đào kép khá chu đáo và nhờ nhà văn Trương Duy Toản soạn tuồng.

    Ông cất một cái rạp hát rộng lớn và đẹp đẽ gần chợ Mỹ Tho để cho ban ca kịch của ông trình diễn. Ðiệu hát cải lương chính thức hình thành từ đó và ngày càng phát triển mạnh, nhiều Ban được thành lập.

    Có thể nói, sân khấu cải lương là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh xã hội Việt Nam, chính xác hơn là xã hội Miền Nam lúc bấy giờ (ta gọi là Lục Tỉnh). Chính vì vậy nó trưởng thành rất mau. Vài ba năm đầu thập kỷ 20, nó còn đang chập chững những bước đầu tiên. Năm 1931 nó đã chính thức được giới thiệu ở ngoài nước với danh nghĩa một loại hình nghệ thuật hiện đại ngang hàng tuồng chèo đã có nhiều thế kỷ lịch sử. Nó ra đời thu hút được đông đảo khán giả và hát bội chịu phần thua kém. Từ Nam Kỳ nó Bắc tiến và tuồng, chèo dần dần nhường bước. Trong hơn nửa thế kỷ, sân khấu cải lương vượt xa các loại hình sân khấu khác về thế mạnh, có thời kỳ nó giữ địa vị độc tôn, thu hút khán giả nhiều hơn các loại sân khấu khác, chỉ kém có điện ảnh.

    Tìm về nơi đầu nguồn của sân khấu cải lương, người ta gặp những sự kiện xã hội, lịch sử sau đây: Miền nam (Lục Tỉnh), vốn có một phong trào ca nhạc tài tử. Nó là sự phát triển của phong trào đàn cây.

    Trong các cuộc tế lễ, ma chay, người ta mời ban nhạc tới diễn tấu, không dùng các loại trống, kèn và các loại nhạc cụ gõ khác và chơi một số bản của nhạc lễ có viết thêm lời ca và một số bản của nhã nhạc từ miền Trung đi vào.

    Phong trào này dần dần phát triển sâu rộng khắp toàn dân. Nhạc cụ được bổ sung, cải tiến. Người ta thêm vào các bài ca nhạc dân gian hoặc sáng tác thêm những bài hát mới. Các địa phương có những ban ca nhạc tài tử nổi tiếng với các danh cầm như: Ba Ðại, Hai Trì, Nhạc khị, Năm Triều, Bảy Triều… và các danh ca như Ba Ðắc, Bảy Lung, Ba Niêm, Hai Nhiều, Hai Cúc… tiếng tăm đồn đại khắp nơi. Phong trào ca nhạc tài tử lôi cuốn mọi giới đồng bào nhất là công chức, thợ thủ công, nông dân, công nhân.

    Khởi đầu, nhạc và lời ca được biểu hiện qua hình thức Ca-ra-bộ (một trình thức diễn xuất thô sơ) với một số nghệ sĩ, được phục vụ trong những buổi tiệc tùng, giải trí, trà dư tửu hậu ở thôn xóm và bài ca được hâm mộ nhất thời bấy giờ là “Bùi Kiệm thi rớt trở về”.

    Ca-ra-bộ được đông đảo quần chúng hâm mộ, dần dần phát triển và con đường phát triển tất yếu của nó là đi vào nghệ thuật sân khấu, biến hát bội thành “hát bội pha cải lương” rồi tiến lên chuyển mình thành một loại hình riêng để diễn các loại tuồng tàu, tuồng kiếm hiệp vào đầu và cuối thập kỷ 40. Ngày càng được quần chúng hâm mộ thưởng thức, nó tiến xa hơn trên đường nghệ thuật, với nhiều nghệ sĩ có tên tuổi tham gia và đến đầu thập kỷ 40, nó đã mang đầy đủ tính chất khá hoàn chỉnh. Và đặc biệt với Nghệ sĩ Năm Châu, (Ông là người có bằng cấp cao nhất trong giới cải lương hồi đó. Bằng Thành Chung , lúc đó có thễ được một chức vụ khá cao trong chánh quyền bấy giờ …) nó trưởng thành thành một loại sân khấu có tính nghệ thuật khá cao. Năm Châu vốn có học Tây, hâm mộ sân khấu Tây phương, nhất là kịch cổ điển Pháp, đã tâm huyết đưa số hiểu biết phong phú, đa dạng của mình vào cải lương, tạo thành một sân khấu riêng biệt – “trường phái Năm Châu” với lực lượng nghệ sĩ lừng danh lúc bấy giờ là Phùng Há, Ba Vân, Tư út, Tư Anh và quí giá nhất là soạn giả Trần Hữu Trang, tác giả nhiều kịch bản nổi tiếng, trong đó có Ðời cô Lựu và Tô ánh Nguyệt cho đến nay, vẫn còn ghi sâu trong ký ức bao người.

    Xem trích đoạn “Đời Cô Lựu”


    Nguồn
    Chủ đề tương tự

Chia sẻ trang này